Thương mại hoá lễ hội là khi các hoạt động mua bán, thu tiền và trình diễn để hút khách lấn át phần nghi lễ và sinh hoạt cộng đồng vốn là lý do lễ hội tồn tại. Có buôn bán trong lễ hội không phải là thương mại hoá; chợ phiên, hàng quà quê, trò chơi có thưởng vẫn luôn là một phần của hội làng. Vấn đề bắt đầu khi tiền trở thành trung tâm, khi dân làng thành người đứng ngoài nhìn lễ hội của chính mình.
Bài này viết cho những người đang làm việc với lễ hội: thành viên ban khánh tiết, cán bộ văn hoá xã, người làm du lịch, và cả người dân quan tâm đến hội làng mình. Bạn sẽ có một bộ dấu hiệu để nhận diện, hiểu vì sao nó xảy ra, những hướng mà nhiều địa phương đã thử, và cách dùng AI hỗ trợ khâu tổ chức mà không biến lễ hội thành sân khấu.
Buôn bán trong hội làng xưa và nay khác nhau thế nào
Hội làng truyền thống chưa bao giờ là không gian thuần nghi lễ. Ngoài phần tế, phần rước, sân đình và bãi hội luôn có hàng quà, hàng đồ chơi, có trò chơi giải thưởng, có người từ làng bên sang bán buôn. Chính sự náo nhiệt đó làm nên chữ "hội". Người làng làm hàng, bán hàng, khách đến mua, tiền ở lại trong cộng đồng và một phần quay về việc tu bổ đình, chùa.
Điều khác hôm nay là quy mô và chủ thể. Khi một lễ hội nổi tiếng, lượng khách có thể vượt xa sức chứa của làng. Những người bán hàng, trông xe, làm dịch vụ không còn là người làng mà là người từ khắp nơi đổ về theo mùa. Có nơi xuất hiện dịch vụ khấn thuê, viết sớ thuê, đổi tiền lẻ, bán lộc, bán "suất" vào gần ban thờ. Phần lợi nhuận phần lớn không ở lại với cộng đồng giữ lễ hội.
Vì thế, khi bàn chuyện thương mại hoá, câu hỏi không phải "có nên bán hàng trong lễ hội hay không" mà là: ai đang quyết định lễ hội diễn ra thế nào, tiền thu được đi đâu, và người dân địa phương còn giữ được vai trò chủ thể không.
Dấu hiệu nhận diện: làm du lịch hay bán rẻ di sản
Không có ranh giới tuyệt đối. Bảng sau đặt hai xu hướng cạnh nhau để ban tổ chức tự soi lễ hội của mình:
| Khía cạnh | Hướng lành mạnh | Dấu hiệu thương mại hoá |
|---|---|---|
| Nghi lễ | Giữ đúng trình tự, người làng thực hiện, khách quan sát | Rút gọn, đổi giờ, thêm tiết mục để chụp ảnh theo yêu cầu đoàn khách |
| Không gian | Khu nghi lễ tách khỏi khu hàng quán | Hàng quán tràn vào sân đình, sát ban thờ |
| Tiền công đức | Hòm công đức có niêm phong, công khai thu chi | Tiền đặt khắp nơi, nhiều người thu, không ai biết tổng |
| Dịch vụ | Trông xe, ăn uống có niêm yết, do địa phương quản lý | Khấn thuê, bán lộc, chèo kéo, giá tự đặt |
| Vai trò người dân | Dân làng tham gia tổ chức, đóng vai, giữ lệ | Dân làng chỉ cho thuê mặt bằng, đứng ngoài |
| Truyền thông | Giới thiệu ý nghĩa, lịch sử, cách ứng xử | Quảng bá chuyện cầu được ước thấy, thổi phồng "hiển linh" |
Một lễ hội có thể có cả hai cột cùng lúc. Việc của ban tổ chức là biết mình đang nghiêng về phía nào ở từng khía cạnh, rồi chọn chỗ nào cần sửa trước. Thường thì công khai tiền công đức và tách không gian nghi lễ khỏi hàng quán là hai việc tạo khác biệt nhanh nhất.
Vì sao lễ hội dễ bị thương mại hoá
Áp lực khách đông. Khi lượng khách tăng nhanh, làng không đủ người và kinh nghiệm để quản lý, nên những người làm dịch vụ từ nơi khác lấp vào khoảng trống. Họ đến vì cơ hội kinh doanh theo mùa, không có ràng buộc gì với lễ hội.
Thiếu quy chế rõ ràng. Nhiều lễ hội làng không có quy chế thành văn về việc ai được bán hàng ở đâu, tiền công đức quản lý ra sao. Khoảng trống quy chế là đất cho mỗi người làm theo ý mình.
Kỳ vọng doanh thu du lịch. Địa phương nào cũng muốn lễ hội góp phần phát triển kinh tế. Khi chỉ đo thành công bằng số khách và số tiền, ban tổ chức dễ bị kéo về phía thêm tiết mục, kéo dài thời gian, quảng bá mạnh tay.
Nhu cầu cầu xin của khách. Một phần khách đến lễ hội với mong muốn cầu xin cá nhân. Nhu cầu này tạo thị trường cho dịch vụ khấn thuê, bán lộc, và cho những lời quảng bá thổi phồng sự "linh nghiệm".
Người hiểu nghi lễ ngày càng ít. Thế hệ cao tuổi nắm vững nghi thức ngày một ít đi. Khi không còn ai đủ uy tín nói "lệ làng ta không làm thế", những thay đổi tuỳ tiện khó bị ngăn lại.
Những hướng mà nhiều địa phương đã thử
Không có công thức chung cho mọi lễ hội, nhưng có một số hướng làm thường được nhắc đến trong các cuộc bàn bạc về quản lý lễ hội:
- Xây dựng quy chế lễ hội có sự góp ý của người dân, nêu rõ khu vực nghi lễ, khu vực hàng quán, cách quản lý tiền công đức.
- Công khai thu chi tiền công đức, dán bảng ở đình hoặc thông báo trong họp thôn; minh bạch là cách nhanh nhất để lấy lại niềm tin.
- Ưu tiên người làng trong các dịch vụ như trông xe, bán hàng quê, hướng dẫn khách, để lợi ích ở lại cộng đồng.
- Đào tạo lớp trẻ tham gia nghi lễ, ghi chép, ghi hình nghi thức khi người cao tuổi còn khoẻ để truyền lại.
- Giới hạn tiết mục biểu diễn thêm; nếu có, tách rõ khỏi phần nghi lễ và ghi là chương trình văn nghệ.
- Phối hợp với chính quyền địa phương xử lý dịch vụ chèo kéo, bán lộc, khấn thuê trong khuôn viên di tích.
Những biện pháp này cần thời gian và cần cả làng đồng thuận. Một ban tổ chức nhỏ khó làm hết trong một mùa; nên chọn một hai việc làm cho thật tốt rồi mở rộng dần.
Một ví dụ giả định: sắp xếp lại một mùa hội
Hãy hình dung một làng ở đồng bằng Bắc Bộ, ví dụ giả định, có hội đình mùa xuân bắt đầu nổi tiếng nhờ ảnh chụp lan trên mạng xã hội. Năm đầu, khách đến đông gấp mấy lần, hàng quán dựng tràn vào sân đình, xe máy đỗ kín đường làng, có người lạ đứng ở cổng mời khách "khấn hộ". Các cụ trong ban khánh tiết phàn nàn rằng đội tế không còn chỗ đứng cho đúng hàng lối.
Sau mùa hội, làng họp. Thay vì bàn chuyện cấm hay mở, họ chia việc thành ba nhóm. Nhóm thứ nhất vẽ lại sơ đồ không gian: sân đình chỉ dành cho nghi lễ và trò chơi, hàng quán dời ra bãi đất trống đầu làng, bãi xe giao cho đoàn thanh niên trông có vé. Nhóm thứ hai lo tiền công đức: chỉ đặt hai hòm có niêm phong, kiểm đếm cuối mỗi ngày với ba người chứng kiến, dán bảng tổng thu ở cửa đình. Nhóm thứ ba soạn một tờ giới thiệu ngắn về hội, phát cho khách ngay từ bãi xe.
Mùa sau, khách vẫn đông, nhưng không khí khác hẳn. Điều làm nên khác biệt không phải lệnh cấm, mà là việc dân làng giành lại quyền quyết định lễ hội của mình diễn ra thế nào. Ví dụ này đơn giản hoá nhiều so với thực tế, vì mỗi làng có hoàn cảnh, quan hệ và nguồn lực riêng, nhưng hướng đi thì có thể học được.
Dùng AI hỗ trợ ban tổ chức lễ hội làng
Những người làm lễ hội ở làng thường bận và ít có thời gian viết lách. AI có thể đỡ một phần việc giấy tờ, nếu bạn giữ vai trò quyết định và kiểm từng chữ:
- Soạn khung quy chế. Câu lệnh mẫu: "Hãy gợi ý khung một bản quy chế tổ chức lễ hội làng gồm các mục: thời gian và trình tự nghi lễ, phân khu không gian, quản lý tiền công đức, quản lý hàng quán và dịch vụ, an ninh trật tự, vệ sinh môi trường. Mỗi mục nêu câu hỏi ban tổ chức cần tự trả lời, không tự điền nội dung."
- Soạn tờ hướng dẫn cho khách: ý nghĩa lễ hội, trình tự chính, những điều nên và không nên. Phần lịch sử phải lấy từ tư liệu của làng, AI chỉ giúp viết lại cho dễ đọc.
- Tổng hợp ý kiến người dân sau mỗi mùa hội: gõ lại các ý kiến thu được, bỏ tên người góp ý, nhờ AI nhóm lại theo chủ đề để họp rút kinh nghiệm.
- Lập bảng phân công việc cho các nhóm, các ngày, kèm danh mục kiểm tra trước giờ khai hội.
- Đối chiếu mọi nội dung liên quan đến quy định quản lý lễ hội, an toàn, phòng cháy với văn bản hiện hành và hướng dẫn của cơ quan văn hoá địa phương.
Đừng dùng AI để viết lời quảng bá kiểu "cầu gì được nấy" hay sáng tác thêm sự tích cho lễ hội. Những câu chữ ấy có thể kéo thêm khách trong ngắn hạn nhưng chính là con đường dẫn tới thương mại hoá mà bạn đang cố tránh.
Khách dự hội cũng là một phần của lời giải
Thương mại hoá không chỉ đến từ phía người bán. Mỗi lần khách mua lộc ngoài cổng, thuê người khấn, nhét tiền lên ban thờ, họ đang nuôi thêm những dịch vụ ấy. Ngược lại, khi khách bỏ tiền vào hòm công đức chính thức, gửi xe ở bãi có vé, mua hàng của người làng, họ gửi tín hiệu rằng lễ hội có giá trị vì chính nó.
Người làm du lịch có vai trò lớn ở đây. Một hướng dẫn viên kể cho đoàn khách về ý nghĩa của nghi lễ, nhắc đoàn không chen vào khu tế, chọn giờ đến không trùng giờ cao điểm, là đang góp phần giữ lễ hội. Một tour chỉ hứa "đi lễ cầu tài" thì đi theo hướng ngược lại.
Lễ hội làng tồn tại được hàng trăm năm vì cộng đồng thấy mình trong đó. Giữ hồn lễ hội, rốt cuộc, là giữ cho người làng còn muốn đứng ra làm hội, và giữ cho người đến dự còn thấy mình là khách được mời chứ không phải người mua vé.
Câu hỏi thường gặp
Bán hàng trong lễ hội có phải là thương mại hoá không?
Không hẳn. Hàng quà, trò chơi, chợ phiên vốn là một phần của hội làng. Thương mại hoá là khi mua bán và thu tiền lấn át nghi lễ, khi người dân địa phương mất vai trò chủ thể và lợi ích không còn ở lại với cộng đồng.
Làm sao để tiền công đức được quản lý minh bạch?
Dùng hòm công đức có niêm phong, kiểm đếm có nhiều người chứng kiến, ghi sổ và công khai thu chi định kỳ ở đình hoặc trong họp thôn. Cách làm cụ thể nên theo hướng dẫn hiện hành của cơ quan quản lý di tích địa phương.
AI có thể viết lời giới thiệu lễ hội cho khách du lịch không?
Có thể, nếu bạn cung cấp tư liệu lịch sử của làng và yêu cầu AI chỉ viết lại cho dễ đọc. Không để AI tự thêm sự tích hay câu chữ quảng bá về sự linh nghiệm. Người hiểu lễ hội trong làng nên đọc duyệt trước khi in.
Khách du lịch nên làm gì để không góp phần thương mại hoá lễ hội?
Tìm hiểu ý nghĩa lễ hội trước khi đi, bỏ tiền vào hòm công đức chính thức, gửi xe ở bãi có vé, không mua lộc hay thuê khấn ở cổng, mua hàng của người địa phương và tôn trọng khu vực nghi lễ.
Có nên thêm tiết mục biểu diễn để lễ hội hấp dẫn hơn không?
Có thể, nhưng nên tách rõ khỏi phần nghi lễ và ghi là chương trình văn nghệ. Không nên sửa trình tự nghi lễ hay rút gọn nghi thức theo yêu cầu của đoàn khách, vì đó là phần cốt lõi làm nên giá trị di sản.
Ai nên tham gia xây dựng quy chế lễ hội làng?
Ban khánh tiết, người cao tuổi am hiểu nghi lễ, đại diện các dòng họ, chính quyền và cán bộ văn hoá xã, cùng người dân trong làng. Quy chế có nhiều người góp ý thì dễ được tôn trọng khi thực hiện.